Bệnh tay- chân- miệng ở trẻ em, cách phòng và điều trị

Bệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm lây theo đường tiêu hóa hoặc lây từ đường hô hấp thông qua dịch tiết. Bệnh do siêu vi trùng Coxsackieviruses và Enterovirus 71 (EV71) gây ra. Bệnh gây tổn thương da, niệm mạc dưới dạng bóng nước ở các vị trí đặc biệt như miệng, mông, gối, lòng bàn tay, chân. Bệnh gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm có thể dẫn tới tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử lý kịp thời.

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh tay – chân – miệng. Phòng và điều trị bệnh tay – chân – miệng luôn là vấn đề đáng quan tâm đối với các bậc phụ huynh. Đặc biệt là trong mùa hè thời tiết hanh nóng, luôn xuất hiện các cơn mưa rào là môi trường lý tưởng cho các bệnh dịch sinh sôi. Bài viết sau sẽ giúp các phụ huynh có cách nhìn tổng thể về bệnh lý, các phòng và điều trị bệnh tay – chân – miệng.

Bệnh tay chân miệng lây từ người sang người
Bệnh tay chân miệng lây từ người sang người

Dịch tễ học

Bệnh lây lan từ người sang người khi  tiếp xúc từ dịch tiết mũi họng, nước bọt hay chất dịch từ bọng nước hoặc phân của người bệnh. Bệnh thường xảy ra ở trẻ em dưới 3 tuổi, đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi đặc biệt là trẻ bú mẹ ít khi mắc bệnh do được truyền kháng thể từ mẹ sang. Nguy cơ nhiễm bệnh càng cao đối với lứa tuổi đi nhà trẻ.

Giai đoạn bùng phát bệnh thường từ tháng 2 đến tháng 4 trong năm, có thể bùng phát thành dịch. Thời gian ủ bệnh thường từ khoảng 1 tuần với triệu chứng đầu tiên của bệnh là sốt. Khi xâm nhập vào cơ thể, virus thường cư trú ở niêm mạc má hay niêm mạc hồi tràng và sao 24 giờ, virus sẽ lây lan đến hạc bạch huyết vùng. Vào đầu tuần thứ 2, khi nhiễm bệnh, kháng thể trung hòa tăng cao và virus bị thải loại. Cơ thể trẻ có thể tạo nên kháng thể đặc hiệu chống lại virus gây bệnh, tuy nhiên trẻ vẫn có nguy cơ tái bệnh do một chủng virus khác gây nên.

Biểu hiện lâm sàng

Khi khởi phát, bệnh nhi sốt nhẹ hoặc sốt cao, một số trường hợp kèm ói và tiêu chảy. Khi phát bệnh, lòng bàn tat, bàn chân, mông và gối xuất hiện bóng nước có dịch trong, đôi khi đục và để lại sẹo. Một số trường hợp xuất hiện hồng ban rất nhỏ, đường kính 1mm-2mm ở lòng bàn tay, bàn chân.

Xảy ra tình trạng tổn thương niêm mạc: xuất hiện bóng nước ở niệm mạc miệng, lưỡi, tiến triển thành vết loét dẫn đến trẻ đau, không ăn được và chảy nước bọt. Sau 7 ngày khởi bệnh nếu không có biến chứng, các biểu hiện trên sẽ thuyên giảm.

Triệu chứng bệnh tay chân miệng
Triệu chứng bệnh tay chân miệng

Biến chứng

Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như biến chứng thần kinh, biến chứng về hô hấp – tuần hoàn. Cha mẹ đặc biệt theo dõi sát trẻ khi nhiễm bệnh, khi phát hiện các dấu hiệu như sốt cao, thở bất thường, trẻ bị kích thích hoặc ngủ li bì, bỏ bú, nôn trở hay co giật cần phải đưa trẻ đi khám ngay.

 Biến chứng về thần kinh

  • Viêm màng não vô trùng: biểu hiện sốt, ói, nhức đầu, quấy khóc, cổ gượng, thóp phồng. Bệnh thường phục hồi sau 3- 7 ngày
  • Viêm não: biểu hiện trẻ giật mình, chới với, hốt hoảng; run giật cơ khi ngủ; run loạng choạng; liệt thần kinh sọ – co giật – hôn mê; mắt nhìn lên rung giật nhãn cầu.
  • Yếu liệt chi: yếu, liệt mềm một hoặc nhiều chi.

Biến chứng hô hấp, tuần hoàn

Triệu chứng sốt cao: đau họng; biếng ăn, thở nhanh nông, không đều, co kéo; Khó ngủ, quấy khóc, run chi, giật mình, đi loạng choạng; Tiêu chảy, nôn ói; Mạch nhanh, hạ tăng sau đó hạ tụt.

Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời thì nguy cơ tử vong sẽ rất cao và nhanh chóng xảy ra

Cấp độ bệnh và điều trị

Độ 1: loét miệng và tổn thương da.

Cách điều trị: bệnh nhi được điều trị ngoại trú. Kết hợp với các biện pháp hạ sốt, giảm đau bằng Paracetamol, vệ sinh răng miệng; chăm sóc nghỉ ngơi. Thực hiện tái khám cách khoảng 2 ngày trong tuần đầu của bệnh.

Lưu ý một số dấu hiệu cần tái khám ngay: sốt cao trên 38,5 độ, rung giật, thở mệt, ngủ li bì, đi loạng choạng, hôn mê.

Độ 2: rung giật cơ, bứt rứt, chới với. Thay đổi dịch não tủy (> 5 TẾ BÀO/MM3)

Cách điều trị: bệnh nhi được nhập viện điều trị theo dõi. Kê thuốc an thần, chăm sóc nghỉ ngơi, theo dõi sát phát hiện và điều trị biến chứng. Một số trường hợp xem xét chỉ định dùng Immunoglobulin.

Độ 3: yếu liệt chi, liệt thần kinh sọ, co giật, hôn mê.

Các điều trị: điều trị săn sóc tăng cường. Điều trị chống phù não, giảm áp lực nội sọ. Khi có dấu hiệu tăng huyết áp hay phù phổi sử dụng Milrinone.

Độ 4: suy hô hấp, phù phổi, tăng huyết áp, trụy mạch.

Cách điều trị: điều trị tương tự như cấp độ 3. Điều trị hô hấp, đặt nội khí quản sớm cho thở máy. Điều trị toan máu theo kết quả khí máu động mạch.

Cha mẹ cần ghi nhớ  nguyên tắc chung về điều trị triệu chứng và biến chứng của bệnh

  • Bệnh không có thuốc điều trị đặc hiệu do virus gây ra.
  • Khi trẻ sốt cao từ 38,50C trở lên cần cho trẻ dùng ngay thuốc hạ nhiệt paracetamol.
  • Khi trẻ sốt và loét miệng bổ sung vitamin C, kẽm, …
  • Bù nước cho trẻ bằng cách dùng dung dịch điện giải oresol; hydrit.
  • Điều trị loét miệng: trước và sau ăn dùng dung dịch glycerin borat lau sạch miệng cho trẻ. Dùng Gel rơ miệng (kamistad; zyttee…) có tác dụng sát khuẩn và giảm đau giúp trẻ ăn uống dễ dàng hơn.
  • Khi có triệu chứng não – màng não như dấu hiệu đề cập ở trên: dùng thuốc chống co giật: phenobarbital và điều trị chuyên sâu.

Biện pháp phòng ngừa bệnh

Hiện nay vẫn chưa có vaccine phòng bệnh tay – chân – miệng. Khi bệnh phát thành dịch, cần cách ly người bệnh để tránh bệnh lây lan từ người sang người.

Chưa có vắc xin phòng bệnh
Chưa có vắc xin phòng bệnh

Cho trẻ nghỉ học cho đến khi khỏi bệnh.

Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân càng nhiều càng tốt, trường hợp tiếp xúc cần thiết đeo khẩu trang, gang tay khi tiếp xúc. Cần vệ sinh kỹ tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc (đặc biệt sau khi thay tã, quần áo có tiếp xúc phân, nước tiểu, nước bọt của trẻ).

Không được chọc vỡ các mụn nước bọng nước trên da trẻ.

Giặt đồ trẻ riêng, vệ sinh các đồ dụng, đồ chơi của trẻ riêng, dọn dẹp vệ sinh và lau phòng ở của bệnh nhân bằng các dung dịch sát khuẩn.

Cần theo dõi chặt chẽ những trẻ có biểu hiện sốt trong vùng dịch.

Chăm sóc sau khi trẻ ốm dậy:

Sau khi trẻ hết bệnh sức đề kháng còn yếu, phải đối mặt với nguy cơ suy dinh dưỡng. Trong khi đó, mọi cơ quan, chức năng, tất nhiên không loại trừ cả hệ tiêu hóa của trẻ cũng còn đang rất mệt mỏi và ít hoạt động. Vì vậy cha mẹ cần lưu ý chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ sau ốm đúng cách để giúp trẻ mau phục hồi sức khỏe và tăng cường sức đề kháng đối với bệnh tật.

Cha mẹ cần để trẻ được nghỉ ngơi nhiều. Nên cho con ăn các thực phẩm giàu chất đạm, xơ với liệu lượng phù hợp và tăng dần theo tình trạng hồi phục của con. Nên hạn chế cho con ăn các thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ hay quá nhiều dinh dưỡng như tôm, cá, dầu mỡ,…Nên chiều theo ý muốn ăn uống của trẻ, cho trẻ ăn những món trẻ ưa thích, mục đích là để kích thích trẻ có cảm giác muốn được ăn, thèm ăn. Không nên kiêng khem quá mức dễ để trẻ suy dinh dưỡng. Uống nhiều nước, bù nước. Chia nhỏ các bữa ăn và nói không với các thức ăn nguội, lạnh.

Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em là cả quá trình dài, khó khăn và phức tạp, đặc biệt là khi trẻ bệnh tật, đau ốm. Vì vậy các cha mẹ cần trang bị cho mình đầy đủ kiến thức cần thiết về việc phòng ngừa và điều trị các loại bệnh thường hay gặp ở trẻ. Mong bài biết hữu ích trong việc củng cố kiến thức cho các cha mẹ về bệnh tay – chân – miệng

8 views