Sinh thường hay sinh mổ, lợi và hại cho mẹ bầu và em bé ?

Hiện nay có rất nhiều chị em phụ nữ có kế hoạch làm mẹ và nhiều mẹ bầu băn khoăn về vấn đề sinh thường hay sinh mổ; phương pháp nào giảm đau đớn; phương pháp nào tốt cho mẹ lẫn con. Bài viết này sẽ thông tin đầy đủ và chi tiết về sinh mổ và sinh thường; lợi và hại của hai phương pháp này đối với mẹ bầu và em bé. Mẹ bầu hay cùng nhau tìm hiểu thật kỹ nhé.

hinh anh em be cuoi de thuong ngo nghinh

Em bé dễ thương

1. Sinh thường và những điều cần biết về sinh thường

Sinh thường

Sinh thường

1.1 Sinh thường là gì?

Sinh thường là phương pháp sinh con truyền thống theo bản năng tự nhiên bằng đường âm đạo. Mỗi ca sinh thường sẽ kéo dài từ 5 đến 6 giờ đồng hồ, lâu hơn rất nhiều so với những ca sinh mổ chỉ mất từ 30 phút đến 1 giờ.

Khi mẹ bầu bị vỡ nước ối và bắt đầu chuyển dạ thì cổ tử cung sẽ co thắt cực đỉnh, độ co bóp liên tục của tử cung sẽ khiến mẹ bầu đau đến quặn người. Tuy nhiên, nếu độ mở của tử cung chưa đủ để sinh thì các mẹ sẽ phải tiếp tục chờ đợi và trải qua các cơn đau đẻ. Đến khi tử cung đã mở được ít nhất 7 – 8 cm thì lúc này các bác sĩ mới quyết định cho mẹ bầu lên bàn sinh.

1.2 Mẹ bầu nên làm gì trước lúc sinh thường

Mẹ bầu cần tập thư giãn: Đi bộ sẽ là cách tốt nhất giúp cho mẹ bầu cảm thấy thoải mái, giảm bớt đau đớn do việc co bóp của tử cung. Mẹ bầu có thể thay đổi các vị trí như ngồi, đứng, đi bộ, thực hiện các động tác vươn người để cơ thể thích nghi hơn với cơn đau. Đặc biệt trong lúc thay đổi các vị trí, nếu mẹ bầu thực hiện đúng cách và kết hợp với xoa bụng vùng rốn sẽ giúp cho việc mở tử cung diễn ra nhanh hơn.

Mẹ bầu cần tập rặn: Khi rặn các mẹ bầu cần giữ cho lưng thẳng và sát vào bàn sinh, phần mông hơi đưa về phía trước. Đối với các đợt đau đẻ, mẹ bầu cần hít một hơi thật sâu, nắm chặt 2 bàn tay, ngậm miệng chặt và không nên phát ra tiếng, bắt đầu dồn sức rặn từ xuống ổ bụng để đẩy con ra ngoài. Nếu vẫn thấy đau thì mẹ bầu nên tiếp tục hít một hơi dài và rặn mạnh đến khi cảm thấy hết đau thì thở nhịp nhàng, lấy sức và bắt đầu dồn hơi ở những đợt rặn kế tiếp.

Mẹ bầu cần tập thở trước khi sinh: Khi có dấu hiệu đau nhiều hơn và đầu em bé sắp lọt ra ngoài, các mẹ nên hít thở thật nhanh theo sự chỉ dẫn của các bác sĩ. Theo đó, các mẹ nên hít một hơi thật sâu khoảng tầm 7 giây, sau đó hít thở nhẹ nhàng lại từ từ.

Mẹ bầu cần hít thở theo nhịp co thắt của tử cung, khi những cơn đau giảm dần, mẹ bầu cần thở nhẹ nhàng để lấy lại sức, đến lúc tử cung thắt lại thì dồn sức thở thật mạnh, kết hợp với rặn sinh để nhanh chóng đẩy con ra ngoài.

cơn gò khi có dấu hiệu chuyển dạ

Cơn gò khi có dấu hiệu chuyển dạ

1.3 Quá trình chuyển dạ khi sinh thường bao gồm 2 giai đoạn chính:

Giai đoạn 1: là giai đoạn xóa mở cổ tử cung, trong giai đoạn này lại chia ra làm 2 thời kỳ:

Biểu hiện của giai đoạn này là khi mẹ bắt đầu xuất hiện những cơn đau bụng nhẹ sau đó hết đau, rồi tiếp tục đau bụng lại. Quá trình này được gọi đau bụng từng cơn. Khi đó cổ tử cung của xóa mở đến 3 cm.

Tiếp đó, mẹ sẽ cảm thấy những cơn đau bụng nhiều và dài hơn, lúc này cổ tử cung xóa mỏng và mở hơn từ 4 cm đến 9 cm.

Giai đoạn 2: đây là giai đoạn sổ thai, khi đó cơn đau bụng đến từng hồi, cổ tử cung mở 10 cm hay còn gọi là mở trọn.

Lúc này trên bụng sản phụ được gắn thiết bị moritoring sản khoa để theo dõi nhịp tim thai và cơn gò tử cung.

1.4 Cách rặn sinh để sinh em bé tự nhiên dễ dàng nhất

Tư thế của sản phụ khi sinh bé: nằm đầu cao một góc 45 độ, phần mông nâng lên một chút, hai tay nắm lấy 2 càng của bàn sinh. Hai chân đạp mạnh vào giá đỡ 2 chân.

Rặn sinh trong lúc cơn gò bắt đầu xuất hiện, bằng cách phối hợp với các động tác hít thở làm sao cho nhịp nhàng và hiệu quả nhất.

Khi đến cơn gò, mẹ nên hít sâu một hơi dài bằng mũi, sau đó thở ra bằng miệng từ từ. Động tác hít thở nhịp nhàng kết hợp với rặn sinh. Khi rặn mẹ nên dồn hơi xuống bụng, chứ không nên dồn hơi lên mặt.

Sau mỗi lần rặn sinh, mẹ nên nghỉ khoảng 50 – 60 giây để bình tĩnh hơn và chuẩn bị cho cơn gò thứ hai. Rặn sinh trong lúc có cơn gò tử cung thì mới hiệu quả và dễ dàng hơn.

Sự kết hợp cộng hưởng từ lực của cơn gò tử cung, lực của sản phụ rặn sinh và lực đẩy bụng của nữ hộ sinh khi đầu thai nhi đã thập thò ở âm hộ, em bé sẽ được ra đời tự nhiên mà không cần phải can thiệp tới bất cứ phương pháp nào khác.

Em bé sinh thường nặng 5.2 kg

Em bé sinh thường nặng 5.2 kg

1.5 Mách nhỏ

Trong suốt quá trình rặn sinh, mẹ nhớ hít thở đều đặn và đừng quá căng thẳng. Nếu cảm thấy quá sức chịu đựng của mình thì mẹ nên mạnh dạn yêu cầu sự trợ giúp của bác sĩ nhé!

Đối với sản phụ sinh thường lần đầu, do tầng sinh môn (bộ phận sinh dục nữ) chắc nên Bác sĩ sẽ tiến hành cắt tầng sinh môn trong lúc cơn gò tử cung với mục đích giúp cho đường thoát ống âm đạo rộng để sinh em bé tự nhiên dễ dàng hơn và giúp cho đầu bé không bị sang chấn, đồng thời phòng ngừa tổn thương cơ vòng hậu môn do rách tầng sinh môn sâu.

Sau khi bé yêu ra đời, bé sẽ được hút nhớt ở miệng và mũi. Các bác sĩ sẽ kẹp cắt rốn bé, kích thích cho bé khóc và thở tốt. Sau đó, bé sẽ được nằm da kề da với mẹ ngay.

Cuối cùng là giai đoạn sổ nhau. Các bác sĩ sẽ chủ động đỡ nhau sau khi mẹ được tiêm 10 đơn vị oxytocin tiêm bắp, đồng thời với oxytocin pha loãng truyền tĩnh mạch. Động tác đỡ nhau tích cực sẽ giúp phòng ngừa băng huyết sau sinh cho mẹ.

2. Sinh mổ và những điều cần biết về sinh mổ

Sinh mổ

Sinh mổ

2.1 Sinh mổ là gì?

Sinh mổ (mổ lấy thai), là một thủ thuật y khoa để đưa em bé ra ngoài thông qua vết cắt ở bụng và tử cung của người mẹ. Dưới đây là một số lý do tại sao người mẹ không thể sinh thường, cần phải sinh mổ:

  • Thất bại trong bước chuyển dạ, cổ tử cung không mở đủ để em bé di chuyển xuống âm đạo.
  • Dây rốn của bé có thể bị chèn ép hoặc nhịp tim của bé cho thấy không thể vượt qua cuộc sinh thường.
  • Mang đa thai như sinh đôi hoặc sinh ba cần phải thực hiện sinh mổ
  • Có vấn đề với nhau thai
  • Kích cỡ của bé quá lớn khiến không thể sinh thường
  • Mang thai ngôi ngược
  • Mẹ bị nhiễm trùng, chẳng hạn như virus suy giảm miễn dịch ở người hoặc herpes
  • Mẹ đang bị đái tháo đường hoặc huyết áp cao

2.2 Quy trình trước khi sinh mổ

Bước đầu tiên bạn sẽ được bác sĩ giải thích lý do phải sinh mổ và được yêu cầu ký giấy đồng ý sinh mổ. Trong trường hợp sinh mổ bất thường, người thân như chồng, bố, mẹ… sẽ là người ký giấy.

Trước thời điểm sinh mổ, bác sĩ sẽ căn cứ vào tình trạng thực tế của bà bầu để lựa chọn hình thức gây mê. Thông thường, bạn sẽ được giảm đau tại chỗ. Một số rất ít trường hợp phải gây mê toàn thân, thường chỉ trong các tình huống khẩn cấp nhất.

Hầu hết các bà bầu sẽ được gây tê ngoài màng cứng hoặc gây mê tủy sống. Những phương pháp này sẽ khiến bạn tê liệt hoàn toàn nửa thân dưới, nhưng vẫn hoàn toàn tỉnh táo trong suốt quá trình em bé ra đời. Hiện nay Bộ y tế đã có công văn không áp dụng phương pháp gây mê tủy sống tuy nhiên các bệnh viện vẫn còn đang áp dụng phương pháp này dẫn đến các mẹ bầu hoang mang vì vậy các mẹ bầu cần nhờ bác sỹ tư vấn thực kỹ hai phương pháp gây mê này nhé.

Nếu bạn đã gây tê màng cứng để giảm đau khi sinh thường, thì nếu phải chuyển sang sinh mổ bạn sẽ được tiêm thêm thuốc giảm đau để bạn tê liệt hoàn toàn. Trường hợp này, bà bầu vẫn có thể cảm giác bị giật mạnh hoặc bị áp lực ở một số điểm trong quá trình phẫu thuật.

Sau khi quá trình gây tê hoàn tất, một ống thông sẽ được đưa vào niệu đạo của bạn để dẫn nước tiểu ra khỏi cơ thể trong suốt quá trình phẫu thuật, đồng thời bạn cũng được truyền tĩnh mạch nếu chưa truyền trước đó. Phần lông mu ở âm đạo sẽ được cạo đi và bạn được chuyển vào phòng mổ.

Một tấm màn che sẽ được nâng lên trên eo để bạn không phải chứng kiến quá trình mổ đang thực hiện. Tuy nhiên, nếu muốn nhìn thấy khoảnh khắc em bé chào đời, hãy đề nghị y tá kéo màn xuống thấp một chút để bạn có thể nhìn thấy con mà không phải thấy những phần khác.

Quá trình sinh mổ

Quá trình sinh mổ

2.3  Quá trình thực hiện sinh mổ

Khi việc gây tê đã hoàn tất và phần dưới cơ thể bạn tê liệt hoàn toàn thì quá trình sinh mổ sẽ bắt đầu. Phần bụng của bạn sẽ được thấm gạc có chất khử trùng. Tiếp đó, bác sĩ sẽ tạo một vết rạch ngang và nhỏ ở da, phía trên xương mu của bạn. Khi đến cơ bụng, bác sĩ tách vết mổ ra (thường dùng tay để tách) và mở rộng chúng để phần bên dưới lộ ra. Tới tử cung, bác sĩ sẽ tạo thêm một vết cắt ngang ở phần dưới của nó. Vết cắt này gọi là vết mổ ngang thấp.

Một số trường hợp đặc biệt như em bé còn quá non nớt và phần dưới của tử cung chưa đủ mỏng để cắt ngang, thì bác sĩ sẽ rạch một đường dọc tử cung, hay còn gọi là vết rạch “cổ điển”. Nếu bạn có một vết rạch “cổ điển” thì gần như chắc chắn lần sinh tiếp theo của bạn sẽ phải sinh mổ.

Tiếp đó, bác sĩ sẽ đưa tay vào trong và kéo em bé ra ngoài. Lúc này bạn sẽ được nhìn thấy con một lát trước khi bác sĩ trao bé cho một bác sĩ hay y tá nhi khoa khác. Trong khi các y tá kiểm tra em bé của bạn, thì bác sĩ sẽ đưa nhau thai ra ngoài và tiến hành quá trình khâu vết mổ lại. Bác sĩ sẽ khâu các lớp từ trong ra ngoài, bắt đầu từ vết rạch ở tử cung. Các vết khâu thường được sử dụng loại chỉ tự tiêu. Quá trình khâu vết mổ sẽ mất nhiều thời gian hơn khi mở bụng, thường mất khoảng 30 phút.

Gây tê tủy sống

Gây tê tủy sống

2.4 Một số biến chứng xảy ra khi sinh mổ

  • Một số biến chứng xảy ra ở một số ít phụ nữ và có thể được điều trị dễ dàng:
  • Nhiễm trùng
  • Mất máu
  • Xuất hiện cục máu đông ở chân, cơ quan vùng chậu hoặc phổi
  • Tổn thương ruột hoặc bàng quang
  • Phản ứng với thuốc gây mê được sử dụng

3. So sánh giữa sinh thường và sinh mổ

Sinh thường vs sinh mổ

Sinh thường vs sinh mổ

3.1 Ưu điểm của sinh thường

Với người mẹ

Người mẹ chọn phương pháp sinh thường sẽ có nhiều thời gian để chuẩn bị sinh nở, có thể thoải mái đi lại và trong thời gian này mẹ cũng sẽ có cơ hội cảm nhận được những thay đổi trong cơ thể mình khi em bé sắp chào đời.

Khi sinh thường, người mẹ cũng sẽ không phải lo sẽ bị ảnh hưởng của các loại thuốc gây tê, thuốc kháng sinh khiến mẹ mất cảm giác và ảnh hưởng đến nguồn sữa mẹ.

Một ưu điểm tuyệt vời nữa với những mẹ sinh mổ là nguồn sữa sẽ về rất sớm. Quá trình sinh thường diễn ra tự nhiên khiến cơ thể sẽ nhận biết được những tín hiệu bé chào đời và từ đó nguồn sữa cũng có nhiệm vụ tiết ra để phục vụ em bé. Sau sinh thường, người mẹ cũng nhanh chóng phục hồi sức khỏe và có sức lực để chăm con. Người mẹ cũng ăn uống thoải mái và vận động dễ dàng hơn.

Theo thống kê mới đây, có đến 75% chị em bầu lựa chọn phương pháp sinh thường.

Với bé

Trong quá trình sinh thường, endorphins (một loại thuốc giảm đau tự nhiên) được tiết ra từ chính cơ thể của thai phụ sẽ tác động tích cực tới khả năng thích nghi của bé với cuộc sống bên ngoài bụng mẹ. Trẻ sinh bằng phương pháp đẻ thường cũng ít có nguy cơ bị ngạt thở hơn so với trẻ đẻ mổ. Nguyên nhân là do việc đẻ thường sẽ thúc đẩy nang phổi mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hô hấp tự động của bé sau khi sinh ra.

Sau sinh, trẻ sẽ được ở trong vòng tay yêu thương của mẹ và được ăn sữa non ngay khi chào đời. Thêm nữa, hầu hết việc sinh con tự nhiên giúp giảm thiểu tối đa sự trợ giúp của các loại máy móc và thuốc gây mê  nên sẽ gây rất ít tổn hại hay tác dụng phụ cho cả mẹ và bé.

Em bé bú ti mẹ

Em bé bú ti mẹ

3.2 Ưu điểm của sinh mổ

Với người mẹ

Phương pháp đẻ mổ là cứu cánh cho mẹ bầu và thai nhi gặp bất thường như đầu thai không thuận, thai nhi bị bệnh tật có tính chất nguy hiểm như bệnh tim, bệnh thận, nhau tiền đạo… Phương pháp này cũng khiến mẹ bầu không mất sức khi không phải chịu đựng cơn đau đẻ và hoàn toàn tỉnh táo trong suốt quá trình ca mổ đẻ diễn ra.

Lợi ích dễ nhận thấy của phương pháp này nữa là ca sinh nở diễn ra rất nhanh chóng, chị em chỉ cần chọn ngày đến bệnh viện, làm thủ tục sinh nở, lên bàn sinh và 30 phút sau là đã được gặp mặt con chứ không như đẻ thường, các mẹ sẽ không biết trước được khi nào con chào đời, có những mẹ còn phải chịu đựng cơn đau đẻ lên đến 2-3 ngày.

Với bé

Sinh mổ sẽ giúp em bé an toàn hơn khi chào đời vì phương pháp này rất dễ khắc phục khi có sự cố xảy ra đặc biệt với những thai nhi đang trong tình trạng nguy hiểm vì mổ đẻ có thể lấy thai nhi ra khỏi cơ thể người mẹ rất nhanh.

Mẹ và bé

Mẹ và bé

3.3 Nhược điểm của sinh thường

Với người mẹ

Phương pháp đẻ thường sẽ khiến chị em mất sức nhiều hơn trong quá tình đau đẻ và rặn sinh. Phương pháp này cũng không an toàn đối với những mẹ gặp vấn đề bất thường trong thai kỳ như nhau tiền đạo hoặc mẹ bị tử cung bé, xương chậu hẹp.

Với bé

Trong quá trình sinh nở, nếu xảy ra sự cố sẽ khó xử lý hơn vì lúc đó thai nhi đã tụt xuống cổ tử cung, không thể sử dụng những phương pháp sinh nở khác thay thế được nữa. Trong trường hợp này sẽ rất nguy hiểm với thai nhi.

3.4 Nhược điểm của sinh mổ

Với người mẹ

Trong quá trình đẻ mổ, sản phụ sẽ phải dùng đến thuốc gây mê nhưng bản thân thuốc gây mê lại rất có hại, gây ra nhiều tác dụng phụ như tụt huyết áp, ảnh hưởng đến nguồn sữa mẹ. Ngoài ra đẻ mổ sẽ làm cho tử cung bị thương, ảnh hưởng đến sự co thắt bình thường của tử cung.

Người mẹ đẻ mổ chắc chắn sẽ mất nhiều máu hơn đẻ thường, sẽ khiến cho hàm lượng máu để co rút tử cung giảm thiểu, ảnh hưởng đến sự hồi phục của tử cung, khiến cho sự hồi phục sức khoẻ sau khi sinh của người mẹ lâu hơn.

Đẻ mổ cũng sẽ để lại nhiều di chứng cho người mẹ như tử cung bị mẩn đỏ dễ dẫn đến dính ruột, viêm bàng quang, và không thể loại trừ nguy cơ bị nhiễm trùng vết mổ, vết mổ không lành và đau nhức, ngứa ngáy vết mổ.

Mổ đẻ còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuyến sữa. Do phẫu thuật mổ đẻ sẽ khiến sản phụ mất nhiều máu và lâu phục hồi sau sinh, không được ăn uống thoải mái (trong tuần đầu sau sinh) nên sự điều tiết để phân chất các tuyến sữa từ não bộ bị hạn chế, ảnh hưởng đến sự phân tiết bình thường của tuyến sữa.

Một rủi ro nữa mà các mẹ cần biết trước khi quyết định đẻ mổ là vết thương tử cung sẽ dễ gây hiện tượng vỡ tử cung, gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng người mẹ và cả đứa trẻ với những lần mang thai sau. Với sản phụ sinh mổ, muốn có thai lần nữa cần chờ ít nhất là hai năm và khoảng cách tốt nhất là 5 năm. Nếu mang thai lần tiếp theo sau khi đẻ mổ mà tiến hành phá thai, dễ phát sinh tình trạng thủng tử cung. Chị em cần đặc biệt lưu ý những nguy cơ này.

Vết thương mổ

Vết thương mổ

Với bé

Bên cạnh những nguy cơ với mẹ, sinh mổ cũng chẳng mấy có lợi cho bé:

Trẻ được sinh ra bằng phương pháp đẻ mổ sẽ thiếu đi sức ép cần thiết của đường sinh sản so với khi sinh tự nhiên, rất có thể phát sinh hội chứng trụy hô hấp, xuất huyết nội, viêm phổi. Khả năng miễn dịch với bệnh của trẻ đẻ mổ thường kém hơn so với những trẻ được sinh ra bằng phương pháp đẻ thường nên các trẻ này sau khi trưởng thành dễ mắc bệnh hơn.

Không chỉ có thế, trẻ đẻ mổ cũng sẽ chậm bắt nhịp với cuộc sống hơn bé sinh thường và có thể bé cũng sẽ chịu ảnh hưởng của một số loại thuốc trong quá trình mổ đẻ.

Trên đây là những lợi ích, thiệt hại của việc sinh thường và sinh mổ, các mẹ bầu cần nghiên cứu kỹ để có sự lựa chọn tốt nhất sao cho khỏe cho mẹ và tốt cho bé. Đặc biệt khi đã lựa chọn phương pháp sinh rồi các mẹ hãy chuẩn bị tâm lý thực tốt để chào đón thiên thần nhỏ nhé. Cho dù sinh thường hay sinh mổ thì mẹ bầu đều thực hiện trọn vẹn vai trò và thiên chức thiêng liêng của mình, vì sự hy sinh của các mẹ thực sự rất lớn và tuyệt vời khi trải qua quá trình sinh nở. Chúc các mẹ vượt cạn thành công. Các mẹ đọc cảm thấy hữu ích thì share lên facebook nhé.

291 views

Bạn thấy bài viết hữu ích không

Click vào ngôi sao để đánh giá

Đánh giá 4.9 / 5. Số đánh giá 30

2 bình luận trong “Sinh thường hay sinh mổ, lợi và hại cho mẹ bầu và em bé ?”